Hotline: 0252 3822390 - 0908700379 trungtamtdc.binhthuan@gmail.com
Danh mục
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định
Slide mặc định

GÓP Ý QUY ĐỊNH ĐO LƯỜNG ĐỐI VỚI PHƯƠNG TIỆN ĐO NHÓM 2

05/05/2023 173 lượt xem

Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa có góp ý đối với Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung Thông tư 23/2013/TT-BKHCN quy định về đo lường đối với phương tiện đo nhóm 2.

             Phân loại phương tiện đo nhóm 2 theo mục đích sử dụng

            Theo VCCI, Luật Đo lường quy định phương tiện đo được sử dụng cho các mục đích “định lượng hàng hóa, dịch vụ trong mua bán, thanh toán, bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, trong thanh tra, kiểm tra, giám định tư pháp và trong các hoạt động công vụ khác” thì được gọi là phương tiện đo nhóm 2, phải được kiểm soát và giao cho Bộ Khoa học và Công nghệ quy định chi tiết danh mục phương tiện đo nhóm 2. Khi xây dựng Thông tư 23/2013/TT-BKHCN, cơ quan soạn thảo đã gộp chung tất cả những phương tiện đo được sử dụng cho các mục đích trên đều phải đáp ứng mức độ kiểm soát như nhau mà chưa có sự phân loại chi tiết hơn. Điều này chưa thực sự hợp lý và gây ra những vấn đề bất cập trên thực tế.

            Trong các mục đích sử dụng của phương tiện đo nhóm 2 được liệt kê ở trên, cần lưu ý phân loại thành hai loại mục đích riêng. Đầu tiên là các mục đích về “bảo đảm an toàn, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường, trong thanh tra, kiểm tra, giám định tư pháp và trong các hoạt động công vụ khác”, tạm gọi là các lợi ích công, bởi đây là các vấn đề thuộc về an toàn và công vụ. Thứ hai là mục đích “định lượng hàng hoá, dịch vụ trong mua bán, thanh toán”, tạm gọi là các lợi ích tư, bởi đây là vấn đề thuộc về thoả thuận giữa các bên mua bán hàng hoá.

            Đối với phương tiện đo sử dụng cho mục đích công, nếu có sai sót thì có thể gây nguy cơ mất an toàn, gây tai nạn hoặc sai sót công vụ. Ví dụ, đồng hồ đo áp suất bình nén khí nếu sai sót có thể gây nổ bình, tai nạn thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản; hoặc cân phân tích dùng trong giám định tư pháp chất ma tuý nếu có sai sót có thể dẫn đến kết án oan sai. Đây đều là những rủi ro mà nếu nó xảy ra thì không thể hoặc rất khó có thể khắc phục. Do đó, việc kiểm soát các thiết bị đo này cần chặt chẽ và nên chú trọng vào tiền kiểm.

            Ngược lại, đối với các phương tiện đo sử dụng cho mục đích giao dịch, mua bán hàng hoá, dịch vụ, nếu có sai sót thì vẫn có thể dễ dàng khắc phục được. Các biện pháp khắc phục có thể kể đến như điều chỉnh số tiền thanh toán, bổ sung hoặc trả lại lượng hàng hoá tương ứng, điều chỉnh các nội dung khác trong hợp đồng giao dịch.

            Thêm vào đó, trong một giao dịch dân sự – kinh tế, các bên có thể có rất nhiều biện pháp khác để có thể bảo đảm sự chính xác của đo lường mà không nhất thiết phải sử dụng các cơ chế kiểm định từ tổ chức được cấp phép. Ví dụ, các bên sử dụng nhiều thiết bị đo để đối chứng, hoặc các bên tự kiểm định thiết bị đo mà không cần bên thứ ba độc lập. Đối với giao dịch giá trị nhỏ, các bên còn có thể tin tưởng nhau để có thể bỏ qua việc kiểm chứng kết quả đo, để giảm chi phí giao dịch, hoặc sử dụng biện pháp hậu kiểm và trừng phạt bằng cách từ chối mua hàng trong tương lai. Nói chung, đối với các thiết bị đo sử dụng cho mục đích tư thì không nhất thiết phải áp dụng cơ chế kiểm định chặt chẽ như đối với thiết bị đo dành cho mục đích công.

            Rủi ro đối với thiết bị đo dành cho mục đích tư chủ yếu nằm ở việc cố ý gian lận đo lường. Đối với việc cố ý gian lận thì biện pháp kiểm định và xử phạt khi không thực hiện kiểm định lại không hiệu quả bằng biện pháp xử phạt thật nghiêm minh khi có gian lận. Việc kiểm định thường xuyên sẽ gây tốn kém chi phí cho những người không gian lận nhưng không đem lại nhiều ý nghĩa trong việc giảm hành vi gian lận cố ý.

Ảnh minh hoạ

            Việc yêu cầu các thiết bị đo sử dụng cho mục đích tư cũng phải được quản lý như mục đích công gây ra nhiều vấn đề bất cập được doanh nghiệp và các hộ kinh doanh phản ánh. Điều này vừa gây tốn kém cho xã hội, vừa tạo tâm lý nhờn luật khi có quy định mà khó thực thi, lại tạo rủi ro không đáng có cho hoạt động sản xuất kinh doanh bình thường.

            Ví dụ, theo quy định tại Điều 4.1 (số thứ tự 8), các loại cân thông dụng dùng trong hoạt động mua bán hàng ngày (như cân của tiểu thương ở chợ) phải được kiểm định định kỳ 12 tháng hoặc 24 tháng. Nếu các tiểu thương không đem cân đi kiểm định tại các tổ chức đủ điều kiện theo đúng quy định thì có thể bị xử phạt từ 500.000 đến 1.000.000 đồng. Trên thực tế, có rất ít tiểu thương mang cân của mình đi kiểm định đúng thời hạn.

            Bản thân chính quyền một số địa phương cũng phản ánh sự khó khăn khi thực thi quy định này. Một số Chi cục TCĐLCL tại các địa phương đã phải tổ chức đoàn kiểm định cân miễn phí cho tiểu thương ở chợ. Kết quả các đợt kiểm định này cũng cho thấy tỷ lệ cân không đạt tiêu chuẩn khá thấp. Khi không có các đợt kiểm định miễn phí tại chỗ thì tiểu thương cũng không chủ động tuân thủ do tốn kém chi phí đi lại, và ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh.

            Nhiều doanh nghiệp cũng phản ánh việc họ phải tốn nhiều chi phí, thời gian để kiểm định các loại phương tiện đo trong khi tỷ lệ sai sót hầu như bằng không. Mỗi lần như vậy, doanh nghiệp phải dừng hoạt động sản xuất kinh doanh, tháo thiết bị đo trong máy móc để mang đến tổ chức kiểm định hoặc mời kiểm định viên đến tận nơi với chi phí đắt đỏ.

            Với các lý do đó, VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo điều chỉnh quy định đối với phương tiện đo nhóm 2 theo hướng như sau: (1) Phân loại mục đích sử dụng phương tiện đo theo mục đích công và mục đích tư như trên trình bày; (2) Đối với phương tiện đo sử dụng trong “định lượng hàng hoá, dịch vụ trong mua bán, thanh toán” thì bãi bỏ hoặc giảm tần suất kiểm định định kỳ. Thay vào đó, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về đo lường để phát hiện hành vi gian lận.

            Phối hợp kiểm định phương tiện đo và kiểm định an toàn

            Theo VCCI, các doanh nghiệp phản ánh tình trạng thủ tục kiểm định phương tiện đo và kiểm định an toàn hiện đang không phối hợp với nhau. Như vậy, các phương tiện, máy móc, thiết bị có gắn kèm phương tiện đo sẽ phải thực hiện hai thủ tục kiểm định độc lập. Ví dụ, xe taxi hiện nay phải kiểm định an toàn và khí thải tại các trung tâm đăng kiểm, nhưng lại phải thực hiện thủ tục kiểm định taximet tại các đơn vị khác.

            Tình trạng này cũng nảy sinh đối với các máy móc, thiết bị phải kiểm định an toàn lao động, kiểm định an toàn kỹ thuật điện, kiểm định phòng cháy chữa cháy, kiểm định trang thiết bị y tế và các hình thức kiểm định an toàn khác. Một số đơn vị cung cấp dịch vụ chứng nhận sự phù hợp hiện nay đã đồng thời thực hiện cả hai hình thức kiểm định an toàn và kiểm định phương tiện đo để phục vụ khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên, do chu kỳ kiểm định của hai hình thức kiểm định này không tương thích với nhau, nên doanh nghiệp vẫn phải thực hiện thủ tục nhiều lần một cách không cần thiết.

            Về vấn đề này, đề nghị cơ quan soạn thảo trước mắt bổ sung quy định theo hướng: đối với những phương tiện đo gắn liền với các loại phương tiện giao thông, máy móc, thiết bị phải thực hiện việc kiểm định an toàn thì chu kỳ kiểm định phương tiện đo đó đúng bằng chu kỳ kiểm định an toàn của phương tiện, máy móc, thiết bị. Về lâu dài cần có cơ chế phối hợp hợp lý giữa việc kiểm định an toàn và kiểm định phương tiện đo để giảm chi phí tuân thủ cho người dân và doanh nghiệp.

            Thiết bị sạc điện cho xe điện

            Dự thảo đề nghị bổ sung thiết bị sạc điện cho xe điện vào diện phương tiện đo nhóm 2. Tuy nhiên, tờ trình chỉ nêu duy nhất một lý do cho sự cần thiết là vì thiết bị này có chức năng đo đếm, xác định lượng điện năng mà bên bán điện bán cho bên mua điện. Tờ trình chưa hề thuyết minh về lợi ích thu được của chính sách này, cũng như không có đánh giá về chi phí phải bỏ ra.

            Có thể suy đoán rằng, lợi ích của chính sách này là nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo đảm lượng điện bán ra được đo lường chính xác. Muốn xác định lợi ích này, cơ quan soạn thảo cần tiến hành khảo sát các thiết bị sạc điện hiện nay đang được sử dụng xem tỷ lệ và mức độ sai sót về đo lường như thế nào. Nếu mức độ sai sót lớn thì việc kiểm soát về đo lường mới mang lại lợi ích. Còn nếu các thiết bị sạc điện hiện nay có sai số nhỏ, trong phạm vi cho phép thì không cần bổ sung thêm biện pháp kiểm soát.

            Thêm vào đó, cần tính toán chi phí của các khâu phê duyệt mẫu, kiểm định ban đầu, kiểm định định kỳ và kiểm định sau sửa chữa. Chi phí này bao gồm cả dự kiến giá dịch vụ kiểm định trên thị trường, các chi phí thời gian chậm đưa thiết bị vào sử dụng, chi phí đi lại, chi phí dừng hoạt động để phục vụ kiểm định.

            VCCI đề nghị cơ quan soạn thảo thu thập và cung cấp các thông tin về chi phí và lợi ích như trên của việc bổ sung thiết bị sạc xe điện và phương tiện đo nhóm 2. Trong trường hợp không chứng minh được lợi ích thu được lớn hơn chi phí bỏ ra thì đề nghị cơ quan soạn thảo không bổ sung thiết bị sạc điện cho xe điện vào diện phương tiện đo nhóm 2.

                                                                                                            Hữu Tân (sưu tầm)

Theo VietQ.vn

 

Bài viết cùng chuyên mục
Top